Nếu xưởng tự ký hợp đồng với khách nước ngoài và đứng tên trên tờ khai hải quan xuất khẩu, hoá đơn bán ra áp thuế suất GTGT 0% khi đủ hồ sơ; thuế đầu vào của gỗ, keo, sơn, phụ kiện được khấu trừ và phần chưa khấu trừ hết có thể đề nghị hoàn khi đủ điều kiện. Nếu xưởng bán cho một công ty thương mại trong nước rồi công ty đó xuất đi, thì với xưởng đây vẫn là bán trong nước: hoá đơn ghi thuế suất của hàng hoá — với đồ gỗ nội thất thường là 10% — dù hàng cuối cùng ra cảng.
Không có cách nào “tốt hơn” cho mọi xưởng. Tự xuất khẩu giữ được giá tốt hơn và không phải thu 10% của khách, nhưng đổi lại phải tự lo hợp đồng ngoại, hải quan, thanh toán quốc tế và có thể phải chờ hoàn thuế. Bán qua thương mại gọn hơn nhiều, đổi lại là giá thấp hơn và phụ thuộc bên mua.
Vì sao cùng một lô hàng mà thuế suất khác nhau
Thuế suất 0% dành cho hàng hoá xuất khẩu — tức bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam (cùng một số trường hợp được coi như xuất khẩu theo luật). Người được áp 0% là người đứng tên xuất khẩu. Trong chuỗi xưởng → công ty thương mại → khách nước ngoài:
- Giao dịch xưởng bán cho công ty thương mại diễn ra trong nước, người mua là doanh nghiệp Việt Nam → thuế suất theo hàng hoá.
- Giao dịch công ty thương mại bán ra nước ngoài → công ty thương mại áp 0% và là bên có thể đề nghị hoàn thuế đầu vào (trong đó có 10% đã trả cho xưởng).
Hình thức uỷ thác xuất khẩu là trường hợp khác: xưởng vẫn là chủ hàng, bên nhận uỷ thác chỉ làm thủ tục thay và hưởng phí. Khi đó xưởng áp 0% nếu có đủ hồ sơ theo hình thức uỷ thác. Hàng bán cho doanh nghiệp chế xuất cũng có cách xử lý riêng (xuất khẩu tại chỗ), không bàn ở đây.
Ví dụ giả định: lô hàng 2 tỷ đồng, thuế đầu vào 120 triệu
Giả sử xưởng sản xuất một lô bàn ghế có thuế GTGT đầu vào (gỗ, keo, sơn, bao bì, điện) là 120 triệu đồng. Hai phương án:
- Phương án A — tự xuất khẩu: bán cho khách nước ngoài với giá quy đổi 2,0 tỷ đồng, thuế suất 0%.
- Phương án B — bán cho công ty thương mại: công ty thương mại trả giá thấp hơn vì họ lo khâu xuất khẩu, giả sử 1,8 tỷ đồng chưa thuế, thuế GTGT 10% là 180 triệu.
| Khoản mục | A: tự xuất khẩu | B: bán qua thương mại |
|---|---|---|
| Doanh thu chưa thuế | 2,0 tỷ | 1,8 tỷ |
| Thuế GTGT đầu ra | 0 | 180 triệu (thu của bên mua) |
| Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ | 120 triệu | 120 triệu |
| Kết quả trên tờ khai | Còn 120 triệu được khấu trừ — chuyển kỳ sau hoặc đề nghị hoàn nếu đủ điều kiện | Phải nộp 60 triệu |
| Dòng tiền thuế | Đã trả 120 triệu cho nhà cung cấp, chờ khấu trừ hoặc hoàn | Thu 180 triệu từ khách, nộp 60 triệu, không chờ hoàn |
| Việc phải tự làm thêm | Hợp đồng ngoại, hải quan, vận chuyển, thanh toán quốc tế | Không |
Nhìn thuần doanh thu, A hơn B 200 triệu đồng. Nhưng trừ đi chi phí tự làm xuất khẩu (khai hải quan, vận chuyển ra cảng, phí ngân hàng, người làm chứng từ) và chi phí vốn khi 120 triệu thuế đầu vào nằm chờ, phần chênh có thể thu hẹp đáng kể. Xưởng cần tự điền số thật của mình vào bảng này chứ không nên chọn theo cảm giác.
Điều kiện để hoá đơn xuất khẩu được áp 0%
Theo Luật Thuế GTGT 48/2024/QH15 và văn bản hướng dẫn, hàng hoá xuất khẩu được áp 0% khi có đủ bộ hồ sơ chính:
- Hợp đồng bán hàng với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài (hoặc hợp đồng uỷ thác xuất khẩu nếu xuất qua bên nhận uỷ thác).
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng cho lô hàng, theo hình thức thanh toán được chấp nhận; bán trả chậm thì phải có thoả thuận thời hạn thanh toán trong hợp đồng.
- Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu đã thông quan, xác nhận hàng đã thực xuất.
Thiếu một trong ba thứ, lô hàng không được áp 0% mà phải kê theo thuế suất trong nước. Hay vướng nhất là khoản thanh toán: khách trả qua tài khoản của người thứ ba, trả bù trừ công nợ không đúng quy định, hoặc tiền về lâu mà không có thoả thuận trả chậm. Bên cạnh hồ sơ thuế, đồ gỗ xuất khẩu còn phải chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp — phần thủ tục hải quan này xem thêm ở mục thuế xuất khẩu trên Thuế Quan.
Hoàn thuế: không phải lô nào cũng đề nghị hoàn ngay
Với xưởng tự xuất khẩu, thuế đầu vào lớn hơn đầu ra là chuyện thường. Có hai đường xử lý số còn được khấu trừ:
- Để chuyển kỳ sau: hợp với xưởng vừa bán trong nước vừa xuất khẩu, vì số đầu ra 10% của hàng nội địa sẽ “ăn” dần số còn khấu trừ.
- Đề nghị hoàn: hợp với xưởng xuất khẩu phần lớn sản lượng, số còn khấu trừ tích tụ nhiều kỳ. Điều kiện, số tối thiểu và trình tự hoàn thuế hàng xuất khẩu làm theo luật và văn bản hướng dẫn đang hiệu lực; hồ sơ hoàn sẽ được đối chiếu kỹ hoá đơn đầu vào, nhất là gỗ nguyên liệu mua trong nước.
Hai điều cần chuẩn bị nếu định đi đường hoàn: hoá đơn đầu vào từ 5 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; và nhà cung cấp gỗ, phụ kiện phải còn hoạt động bình thường. Mua của đơn vị sau đó bị xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký là lý do phổ biến khiến số đề nghị hoàn bị loại một phần.
Chọn phương án theo tình hình của xưởng
| Tình huống | Hướng hợp lý |
|---|---|
| Mới làm, chưa có khách nước ngoài trực tiếp, chưa có người làm chứng từ ngoại thương | Bán qua công ty thương mại, hoặc uỷ thác xuất khẩu để học dần |
| Đã có khách quen, đơn hàng đều, xuất phần lớn sản lượng | Tự xuất khẩu, chuẩn bị quy trình hồ sơ hoàn thuế |
| Vừa bán nội địa vừa xuất khẩu | Tự xuất khẩu phần đơn lớn, để số khấu trừ bù với đầu ra nội địa |
| Vốn lưu động mỏng | Tính kỹ thời gian tiền đầu vào nằm chờ trước khi chuyển sang tự xuất khẩu |
Điều không nên làm: bán cho công ty thương mại nhưng ghi hoá đơn 0% vì “hàng đằng nào cũng đi nước ngoài”. Khi bị kiểm tra, xưởng sẽ bị tính lại thuế đầu ra theo thuế suất trong nước, cộng tiền chậm nộp, mà không thu lại được phần thuế đó từ bên mua.
Chuẩn bị bộ hồ sơ trước khi nhận đơn xuất khẩu đầu tiên
Nếu chọn tự xuất khẩu, phần việc nên dựng sẵn trước lô đầu tiên, vì thiếu sót ở lô đầu thường kéo dài sang cả hồ sơ hoàn thuế sau này:
- Mẫu hợp đồng bán hàng với khách nước ngoài ghi rõ hàng hoá, số lượng, giá, điều kiện giao hàng, phương thức và thời hạn thanh toán qua ngân hàng.
- Tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp nhận ngoại tệ, và quy ước với khách là chỉ nhận tiền từ chính người mua trong hợp đồng.
- Người làm thủ tục hải quan: tự khai hoặc thuê đại lý làm thủ tục, nhưng doanh nghiệp vẫn phải hiểu và lưu tờ khai của mình.
- Sổ theo dõi từng lô: số hợp đồng, số tờ khai, số hoá đơn 0%, ngày tiền về, số tiền về. Một dòng cho một lô là đủ để khi làm hồ sơ hoàn không phải lục lại.
- Hồ sơ đầu vào sạch: hoá đơn gỗ, phụ kiện kèm chứng từ chuyển khoản; nhà cung cấp đã tra trạng thái mã số thuế trước khi ký đơn lớn.
Làm được năm việc này thì chênh lệch giữa hai phương án chủ yếu còn là chuyện giá bán và vốn lưu động, không còn là rủi ro bị loại 0% hay bị loại số đề nghị hoàn.
Tự kiểm tra ở đâu
- Cổng hoá đơn điện tử: hoá đơn xuất khẩu đã lập với thuế suất 0%, hoá đơn đầu vào của từng nhà cung cấp gỗ, phụ kiện.
- Trang tra cứu thông tin người nộp thuế: trạng thái mã số thuế của nhà cung cấp trước khi ký đơn nguyên liệu lớn.
- Hệ thống hải quan điện tử: tình trạng tờ khai xuất khẩu đã thông quan, thực xuất.
- Tài khoản thuế điện tử: số thuế còn được khấu trừ chuyển kỳ qua từng tờ khai và trạng thái hồ sơ hoàn nếu có.
Câu hỏi thường gặp
Công ty thương mại đề nghị xưởng xuất hoá đơn 0% vì hàng đi xuất khẩu, có được không?
Không. Xưởng không phải người xuất khẩu nên hoá đơn bán cho công ty thương mại ghi thuế suất trong nước của hàng hoá. Công ty thương mại mới là bên áp 0% khi xuất và được khấu trừ, hoàn phần thuế đã trả cho xưởng.
Khách nước ngoài trả tiền chậm vài tháng thì lô hàng còn được 0% không?
Được nếu hợp đồng có thoả thuận thời hạn thanh toán và khi đến hạn tiền về qua ngân hàng theo quy định. Tiền về không đúng thoả thuận hoặc không qua ngân hàng là lý do phổ biến bị loại 0%.
Uỷ thác xuất khẩu và bán cho công ty thương mại khác nhau thế nào về thuế?
Uỷ thác thì xưởng vẫn là chủ hàng, áp 0% khi có đủ hồ sơ kèm hợp đồng uỷ thác; bên nhận uỷ thác chỉ lập hoá đơn cho phí uỷ thác. Bán đứt cho công ty thương mại thì xưởng bán trong nước và áp thuế suất nội địa.
Xưởng mua gỗ của người dân không có hoá đơn thì sao?
Không có hoá đơn GTGT nên không có thuế đầu vào để khấu trừ hay hoàn cho phần đó; chi phí dùng bảng kê thu mua theo quy định để tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Cần giữ đủ giấy tờ nguồn gốc gỗ cho khâu hải quan.
Có nên đề nghị hoàn cho từng lô xuất khẩu không?
Thường không cần. Nhiều xưởng gộp số còn được khấu trừ của nhiều kỳ rồi đề nghị một lần khi đủ điều kiện theo quy định, để hồ sơ gọn và đối chiếu một lần.